0989688585
THÔNG TIN LIÊN HỆ

0989.68.85.85

Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ: chặn đứng rủi ro ngay từ khi thiết kế

Hướng dẫn trẻ nhỏ sử dụng thang máy đúng cách từ sớm

Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ: chặn đứng rủi ro ngay từ khi thiết kế. Bản vẽ giếng thang nào cũng ghi đủ con số: kích thước thông thủy, hố PIT, OH, tải trọng, vị trí từng cửa tầng. Nhưng chưa bản vẽ nào có một ô ghi: bé hai tuổi sẽ đứng ở đâu khi cửa mở. Nhiều gia đình có con nhỏ chọn thang máy theo trình tự quen thuộc: số tầng, số người đi cùng lúc, kiểu cabin, ngân sách. Câu hỏi “cháu sẽ làm gì ở đây?” thường đến sau bàn giao. Lúc đó giếng thang đã xây xong, cửa tầng đã vào đúng chỗ, và mỗi điều chỉnh đều có nghĩa là đục, cắt, làm lại. (Tình huống trên là minh họa để dễ hình dung, không phải một khách hàng cụ thể của Delta.)

Thang máy đạt chuẩn có đủ an toàn cho trẻ nhỏ không? Đủ để vận hành đúng quy định. Chưa chắc đã đủ cho một đứa trẻ hiếu động. Các quy chuẩn được viết cho mọi người dùng. Trẻ nhỏ chỉ là người nhỏ nhất và khó đoán nhất trong số đó. Theo Delta, khoảng cách giữa “đạt chuẩn” và “yên tâm khi trong nhà có bé” nằm ở những quyết định thiết kế. Nhiều quyết định trong số đó không sửa được sau khi đã lắp.

Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ: chặn đứng rủi ro ngay từ khi thiết kế
Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ: chặn đứng rủi ro ngay từ khi thiết kế

Một rủi ro với trẻ nhỏ được chặn bởi những lớp nào?

Chỉ cần một thiết bị an toàn tốt là đủ chưa? Chưa. Mỗi rủi ro với trẻ nhỏ thường được chặn bởi ba lớp.

  • Lớp thứ nhất là kết cấu: vị trí đặt thang, giếng thang, cửa tầng, lan can và vách kính xung quanh. Đã xây là khó sửa.
  • Lớp thứ hai là thiết bị: cảm biến cửa, khóa cửa tầng, cứu hộ tự động, liên lạc khẩn cấp và khóa trẻ em nếu gia đình cần. Thay được, sửa được, nhưng chỉ đáng tin khi được kiểm tra đều.
  • Lớp thứ ba là người lớn: nhìn thấy, nghe thấy, dạy bé, nhắc bé. Dễ đổi nhất, và cũng dễ lơi nhất.

Một lớp yếu chưa chắc dẫn đến tai nạn. Nhưng nếu cả ba cùng yếu thì rủi ro tăng nhanh. Bảng dưới cho thấy mỗi kiểu rủi ro đang dựa nhiều nhất vào lớp nào.

Kiểu rủi ro Lớp chặn chính Điều quyết định ở khâu thiết kế
Kẹp tay, kẹp đầu ở cửa Kết cấu cửa, rồi đến cảm biến Kiểu cửa, khoảng hở giữa hai lớp cửa, bảo vệ cửa kính, vùng phủ cảm biến
Rơi, ngã Kết cấu xung quanh giếng thang Lan can, vách kính, khoảng chờ, vị trí đặt thang
Ở một mình trong cabin Thiết bị khẩn cấp, rồi người lớn Liên lạc hai chiều gọi về đâu, cứu hộ khi mất điện, có tích hợp khóa trẻ em hay không
Nghịch, va chạm Hoàn thiện cabin, rồi người lớn Chiều cao nút, góc cạnh, vật liệu vách, tay vịn, sàn
Một rủi ro với trẻ nhỏ được chặn bởi những lớp nào?
Một rủi ro với trẻ nhỏ được chặn bởi những lớp nào?

Kẹp: những khe hở thang máy mà trẻ nhỏ hay chạm vào nhất

  • Cảm biến cửa có chặn được mọi vụ kẹp không? Không. Cảm biến là một lớp, không phải toàn bộ. Cảm biến phát hiện vật nằm trên đường cửa đang đóng. Theo tài liệu kỹ thuật công khai về EN 81-20, thiết bị bảo vệ cửa phải phủ vùng từ khoảng 25 mm đến 1.600 mm so với ngưỡng cabin và phát hiện được vật có đường kính từ 50 mm
  • Mức đó đủ cho một cánh tay. Ngón tay của bé nhỏ hơn nhiều. Vì vậy, đừng giao riêng cho cảm biến việc bảo vệ ngón tay. Phần còn lại phải đến từ kết cấu cửa. Có ba chỗ trẻ nhỏ hay bị kẹp.

Mép cánh cửa và khung

  • Đây là chỗ bàn tay bé đặt vào đầu tiên. Bé đứng sát cửa, chạm vào cánh cửa đang trượt, rồi tay bị cuốn theo. Báo chí trong nước đã nhiều lần ghi nhận các vụ bé bị kẹp tay ở cửa thang máy chung cư.
  • Lực đóng của cửa tự động bị giới hạn: các tài liệu kỹ thuật công khai về EN 81-20 nêu mức khoảng 150 N khi cửa bị chặn, động năng trung bình khoảng 10 J. Giới hạn đó giúp giảm hậu quả, chưa loại bỏ được việc kẹp.

Khoảng trống giữa hai lớp cửa

  • Thang máy có hai lớp cửa. Cửa tầng ở ngoài, cửa cabin ở trong. Giữa chúng là một khoảng trống. Nếu khoảng trống đủ sâu, một đứa trẻ nhỏ có thể lọt vào đó.
  • Cơ quan an toàn sản phẩm tiêu dùng của Mỹ (CPSC) coi đây là một mối nguy riêng của thang máy gia đình. Trẻ nhỏ có thể bị mắc kẹt trong khoảng hở giữa cửa tầng và cửa hoặc cổng cabin, rồi bị thương nặng khi thang được gọi đi tầng khác. Có cả trường hợp tử vong.
  • CPSC khuyến cáo chủ nhà kiểm tra để khoảng hở giữa hai cửa không sâu quá 4 inch, tức khoảng 10 cm. Cách xử lý được nêu gồm đặt tấm chắn khoảng hở phía sau cửa tầng, hoặc lắp thiết bị giám sát tự ngắt thang khi phát hiện trẻ trong khoảng hở. Cùng năm đó, khoảng 69.000 thang máy gia đình tại Mỹ được ba nhà sản xuất thu hồi tự nguyện để khắc phục đúng lỗi này
  • Mức 4 inch cũng là giới hạn trong bản 2016 của bộ tiêu chuẩn ASME A17.1. Bản cũ cho phép 5 inch, và cơ quan quản lý thang máy của một bang tại Mỹ nhận định khoảng hở cũ đủ rộng cho một đứa trẻ nhỏ đứng lọt vào
  • Ở Việt Nam, tiêu chuẩn tương đương EN 81-20 là TCVN 6396-20:2017. Theo các tài liệu hỏi đáp công khai về EN 81-20:2014, khoảng cách ngang giữa mép trước cửa cabin và mép trước cửa tầng không vượt quá 0,12 m trong suốt quá trình vận hành bình thường. Khe hở ngang giữa ngưỡng cabin và ngưỡng cửa tầng không vượt quá 35 mm. QCVN 02:2019/BLĐTBXH cũng nêu mức 35 mm
  • Hai mức này không ghi rõ là dành riêng cho trẻ em. Nhưng cơ thể trẻ nhỏ là phép thử khắt khe nhất cho một khoảng hở. Các con số trên là mốc của tiêu chuẩn, không phải số đo riêng của một model nào. Con số thật của thang nhà bạn phải được đo và ghi vào biên bản nghiệm thu.

Cửa kính

  • Cửa kính trượt tự động có một kiểu kẹp riêng: bàn tay bé bị kéo vào khe giữa cánh kính và khung khi cánh trượt vào hộp.
  • Bộ tiêu chuẩn EN 81 từ bản hài hòa năm 1998 đã bổ sung yêu cầu giảm nguy cơ này cho cửa kính trượt tự động rộng hơn 150 mm. Các phương án được nêu gồm kính mờ đến độ cao 1,10 m, hoặc phát hiện ngón tay đến độ cao 1,60 m, hoặc hạn chế khe hở. Thang đưa vào sử dụng từ ngày 01/7/1999 trở đi phải đáp ứng. Nếu chọn cửa kính, hãy hỏi đơn vị lắp đặt đã dùng phương án nào để bảo vệ tay trẻ.

Cửa mở tay

  • Nhà phố hẹp thường chọn cửa tầng mở tay, kiểu bản lề như cửa phòng. Kiểu này không có cánh tự đóng sập. Nhưng có hai việc nên hỏi thêm.
  • Phía bản lề có khe hở đủ để ngón tay lọt vào không? Và bé có tự mở được cửa tầng rồi bước vào cabin một mình không? Câu thứ hai thuộc về rủi ro “ở một mình”, sẽ nói ở phần sau. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Cửa thang máy gia đình có thực sự quan trọng?

Một bài học từ cánh cổng tự động

  • Bệnh viện Nhi Trung ương từng ghi nhận ca bé 28 tháng tuổi bị kẹp chân ở cổng trượt tự động tại nhà. Bác sĩ chỉ ra nguyên nhân kỹ thuật: cảm biến hồng ngoại lắp hướng ra ngoài thay vì hướng vào trong, nên cổng không nhận ra người đang tiến lại gần
  • Thang máy không lắp cảm biến theo kiểu đó. Nhưng bài học áp dụng được: thiết bị đạt chuẩn trên giấy vẫn có thể không bảo vệ ai nếu lắp sai vị trí hoặc sai hướng. Cách kiểm tra thực tế là đưa vật cản thử vào đường cửa ở cả tầm thấp lẫn tầm cao lúc nghiệm thu, nhất là sát sàn, nơi chân và tay bé hay xuất hiện. Cơ chế hoạt động và các dấu hiệu cảm biến suy giảm đã có trong bài Cảm biến cửa thang máy là gì: Có phải lớp an toàn quan trọng nhất không?
  • Điều nên chốt ở khâu thiết kế: kiểu cửa tầng và cửa cabin, số đo khoảng hở giữa hai lớp cửa, phương án bảo vệ tay trẻ nếu dùng cửa kính, và vùng phủ của cảm biến. Cả bốn nên nằm trong biên bản, không chỉ trong lời hứa.
Quan sát kỹ khi ra vào thang máy giúp trẻ tránh va chạm
Quan sát kỹ khi ra vào thang máy giúp trẻ tránh va chạm

Rơi và ngã: giếng thang, lan can giếng trời và mảng kính

  • Giếng thang có thể là nơi trẻ bị rơi không? Với thang máy đạt chuẩn và được bảo trì đúng, khả năng này thấp. Cửa tầng có khóa liên động theo TCVN 6396. Cửa chỉ mở được khi cabin đang ở đúng tầng đó. Đây là lớp an toàn bắt buộc, quan trọng hơn cả cảm biến. Rủi ro rơi và ngã của trẻ nhỏ vì vậy thường không nằm trong giếng thang, mà nằm quanh nó.

Lan can và giếng trời

  • Nhiều ngôi nhà đặt thang cạnh giếng trời hoặc cạnh cầu thang bộ. Ở đó có lan can, chiếu nghỉ, ô thông tầng. Bé có thể chui qua khe lan can, hoặc trèo lên thanh ngang để nhìn xuống.
  • Hướng dẫn của sở xây dựng địa phương, dẫn theo quy chuẩn xây dựng, nêu hai điều cho công trình có trẻ nhỏ: khe hở lan can không để lọt quả cầu đường kính 100 mm, và không bố trí thanh ngang để bé tì chân trèo qua. Chiều cao lan can ở vị trí thông thường là 1,1 m
  • Phần lan can thường do nhà thầu xây dựng làm, không thuộc phạm vi đơn vị thang máy. Vì vậy, nó dễ bị bỏ sót nhất. Nên chốt trong buổi phối hợp bản vẽ giữa chủ nhà, kiến trúc sư và đơn vị thang máy.

Khoảng chờ trước cửa tầng

  • QCVN 10:2024/BXD nêu không gian chờ trước cửa thang tối thiểu 1.400 × 1.400 mm. Quy chuẩn đó áp dụng cho công trình có yêu cầu tiếp cận như nhà công cộng; với nhà ở riêng lẻ, nó không phải điều luật. Dù vậy, đây là con số dễ dùng để hình dung một khoảng chờ đủ rộng. Một khoảng chờ rộng và trống giúp bé không phải đứng sát cửa. Đừng kê ghế, thùng đồ chơi hay xe đạp ngay sát cửa tầng.

Cabin kính và vách kính

  • TCVN 6396-20:2017 yêu cầu phần kính của cabin hoặc vách giếng thang là kính dán nhiều lớp. Giữa các lớp có phim PVB giữ mảnh vụn lại khi kính vỡ, thay vì để chúng rơi xuống.
  • Cabin kính có một lợi thế với nhà có bé: người lớn nhìn thấy cabin đang đi, và biết ai ở trong. Bé hiếu động cũng hay áp tay, áp mặt, gõ vào kính. Khung giữ kính cần được kiểm tra định kỳ, vì đó là mối liên kết cơ khí độc lập với phần còn lại.
  • Theo Delta, không có quy tắc “nhà có bé thì không dùng kính”. Điều cần là chọn đúng loại kính, đúng khung và đúng chu kỳ kiểm tra. Bạn có thể tham khảo thêm: Ưu điểm của thang máy kính và Kéo dài tuổi thọ thang máy kính gia đình đúng cách.
Rơi và ngã: giếng thang, lan can giếng trời và mảng kính
Rơi và ngã: giếng thang, lan can giếng trời và mảng kính

Ở một mình: khi cabin dừng mà không có người lớn bên cạnh

  • Mất điện lúc bé ở trong cabin thì sao? Nếu thang có cứu hộ tự động (ARD), cabin tự dừng ở tầng gần nhất rồi mở cửa cho bé bước ra. ARD chạy bằng nguồn dự phòng, độc lập với điện lưới. Đây là tính năng phổ biến trong ngành. Không phải cấu hình nào cũng có sẵn, nên hãy hỏi rõ khi khảo sát. Bạn có thể xem thêm: Mất Điện Trong Thang Máy Có Nguy Hiểm Không? Nhưng ARD chỉ giải quyết mất điện. Nó không giải quyết một đứa trẻ hoảng sợ khi cabin dừng ở tầng lạ. Với bé, đó là phần khó hơn.

Cuộc gọi khẩn cấp đổ về đâu?

  • Thang chở người thường có nút báo động. Điều nên hỏi là khi bé bấm, ai nghe. Bộ tiêu chuẩn EN 81-28 về báo động từ xa yêu cầu liên lạc hai chiều bằng giọng nói với người cứu hộ; chuông báo một chiều là chưa đủ. Với nhà ở, câu hỏi cụ thể hơn: cuộc gọi đổ về số điện thoại nào trong nhà, hay về trung tâm nào, và có người nghe 24 giờ hay không? Bé nhỏ khó mô tả mình đang ở đâu, thấy gì. Nút liên lạc nên dễ nhìn, dễ với tới, và gia đình nên cho bé thử bấm nút một lần khi có người lớn bên cạnh.

Khóa trẻ em có cần tính từ bản vẽ không?

  • Khóa cửa tầng và cảm biến bảo vệ bé khi thang đang chạy. Chúng không ngăn bé tự bắt đầu một chuyến đi. Đó là việc của khóa trẻ em: một lớp xác thực (mã, thẻ, vân tay…) trước khi thang nhận lệnh.
  • Khóa trẻ em không bắt buộc theo quy chuẩn. Việc tích hợp phụ thuộc vào hệ điều khiển của thang. Nếu gia đình đã có ý định dùng, nên nêu ngay lúc chọn hệ điều khiển, vì khi đó mọi lựa chọn còn linh hoạt.

Nghịch và va chạm: bảng nút, vách, tay vịn và sàn

  • Đây là nhóm rủi ro ít nghiêm trọng nhất, nhưng xảy ra nhiều nhất. Bé bấm tất cả các nút, tựa lưng vào vách, vịn vào tay vịn rồi đu người.
  • Bảng nút nên đặt cao hay thấp? Tùy gia đình đang cần ưu tiên ai.
  • Theo QCVN 10:2024/BXD, nút trên cùng của bảng điều khiển nằm trong khoảng 900–1.200 mm so với sàn cabin. Mốc này dành cho người ngồi xe lăn và người lớn tuổi. Nó cũng là độ cao bé bốn, năm tuổi với tới được. Với nhà ở riêng lẻ, đây là mốc để cân nhắc, không phải điều luật.
  • Nếu trong nhà vừa có người lớn tuổi vừa có bé, hãy nêu rõ hai nhu cầu đó khi khảo sát. Đơn vị thiết kế sẽ cùng bạn cân giữa dễ dùng cho người lớn tuổi và hạn chế bé tự bấm, tùy hệ điều khiển cụ thể.

Vật liệu cabin có liên quan gì tới bé? Có, ở ba chỗ.

  • Góc cạnh và chi tiết nhô: ưu tiên vách phẳng, mép bo. Tránh các chi tiết trang trí gắn rời, dễ bung khi bị kéo.
  • Tay vịn: chắc, liền mạch, đủ chịu một đứa trẻ đu người thử.
  • Sàn: bề mặt quá bóng dễ trơn khi giày ướt. Sàn đá còn làm cabin nặng thêm, nên cần báo cho nhà sản xuất sớm.

Ba chỗ này sửa được sau, nhưng đổi sang vật liệu nặng thì phải tính lại. Nên chọn từ đầu.

Kỹ thuật viên Delta đưa ra phương án thang máy phù hợp cho gia đình trẻ
Kỹ thuật viên Delta đưa ra phương án thang máy phù hợp cho gia đình trẻ

Thiết kế cho bé hôm nay hay cho cả quãng bé lớn lên?

Đây là phân vân phổ biến: bé còn hai tuổi, vậy thiết kế theo bé hai tuổi hay theo mười năm tới? Có nên thiết kế “bọc kín” cho em bé hai tuổi không? Không cần. Thiết kế cho giai đoạn rủi ro cao nhất trong vài năm tới, và chừa chỗ cho phần có thể thêm sau.

Rủi ro đổi chỗ theo tuổi. Trẻ chập chững thường đưa tay vào mọi khe, bám vào cánh cửa. Trẻ vài tuổi thích bấm nút, đứng sát cửa, giữ cửa. Trẻ lớn hơn chạy, tựa lưng vào cửa, nghịch vách kính, và rủ bạn cùng chơi. Đây là quan sát chung từ các tài liệu an toàn, không phải số liệu thống kê.

Mốc tuổi bé được đi thang một mình cũng không có con số chung. Một số bài báo nêu mốc dưới 5 tuổi, một số nêu dưới 10 tuổi. Theo Delta, điều quyết định là bé có hiểu và làm theo hướng dẫn an toàn hay không, không chỉ tuổi.

Vì vậy, nên phân các quyết định theo mức khó sửa:

  • Không sửa được nếu không động vào kết cấu: vị trí giếng, kích thước giếng, hướng mở và vị trí cửa từng tầng, lan can quanh giếng trời. Phải đúng ngay từ bản vẽ.
  • Sửa được nhưng phải tính lại kỹ thuật: kiểu cửa, bề rộng cửa, cửa kính hay cửa inox, vật liệu cabin nặng. Nên chốt trước khi đặt hàng.
  • Sửa tương đối nhẹ: khóa trẻ em và phân quyền (tùy hệ điều khiển), phim dán kính, bề mặt vách nhẹ, tay vịn. Có thể bổ sung khi nhu cầu rõ hơn. Nhóm đầu mới là chỗ nên dành nhiều thời gian nhất.

Đặt thang ở đâu để người lớn còn nhìn thấy cửa thang?

  • Nguyên tắc ngắn nhất: cửa thang nên nằm trong tầm nhìn tự nhiên của người lớn từ nơi cả nhà hay ngồi, như bếp hoặc phòng khách. Không nên đặt ở góc khuất.
  • Một chiếc thang chạy êm có mặt trái với nhà có bé: người lớn khó nghe thấy thang đang chạy. Khi bé vừa lẻn vào cabin, có thể không có tiếng động nào báo hiệu. Vì vậy, vị trí quan trọng hơn vẻ ngoài. Nếu từ bếp nhìn thấy cửa tầng, hoặc thấy đèn báo vị trí cabin, bạn sẽ biết thang đang ở đâu.

Còn vài điểm cần cân nhắc:

  • Tránh đặt cửa tầng ngay mép chiếu nghỉ hoặc sát lan can giếng trời.
  • Tránh đặt cửa trên lối bé hay chạy qua, như từ phòng chơi ra cầu thang.
  • Với nhà ống, khoảng chờ trước cửa tầng hay bị hẹp; hãy kiểm tra nó ngay từ bản vẽ.

Không có vị trí nào an toàn cho mọi nhà. Chỉ có vị trí phù hợp với cách sinh hoạt của chính gia đình bạn. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Những Vị Trí Không Nên Đặt Thang Máy Trong Nhà

Những điều nên chốt bằng văn bản trước khi xây giếng thang

Những quyết định khó sửa nhất nên được viết ra giấy trước khi bê tông được đổ. Dưới đây là những câu một người tư vấn sẽ hỏi bạn, và những câu bạn nên hỏi lại.

  • Trong nhà có bé mấy tuổi, và vài năm tới có thêm ai không? Câu trả lời quyết định mức bảo vệ cần tính.
  • Cửa thang nằm ở đâu so với bếp và phòng khách? Người lớn có nhìn thấy cửa thang từ chỗ đang ngồi không?
  • Kiểu cửa tầng và cửa cabin là gì, hướng mở thế nào? Cửa kính hay inox, tự động hay mở tay?
  • Khoảng hở giữa hai lớp cửa là bao nhiêu mm? Con số này nên được đo lúc nghiệm thu và ghi vào biên bản.
  • Cảm biến phủ từ độ cao nào đến độ cao nào, và đã thử bằng vật cản ở sát sàn chưa?
  • Cuộc gọi khẩn cấp đổ về đâu, và thang có cứu hộ tự động không? Nếu có, nguồn dự phòng được kiểm tra thế nào?
  • Lan can quanh giếng trời và chiếu nghỉ do ai làm, theo bản vẽ nào? Phần này hay bị rơi vào khoảng giữa nhà thầu và đơn vị thang máy.
  • Gia đình có định dùng khóa trẻ em không? Nếu có, nói trước khi chọn hệ điều khiển.

Kiểm định đạt là điều kiện bắt buộc trước khi thang vận hành chính thức. Nhưng nó không trả lời thay các câu hỏi riêng cho nhà có bé ở trên. Nếu bạn đang chuẩn bị xin báo giá, bài Câu hỏi cần trả lời trước khi yêu cầu báo giá thang máy giúp bạn gom thông tin hiện trạng nhanh hơn.

Thiết kế tốt chỉ giữ được nếu bảo trì đúng chỗ

Một khoảng hở được đo đúng lúc nghiệm thu có thể rộng ra sau vài năm. Cảm biến có thể bám bụi, ắc quy cứu hộ có thể yếu đi, liên lạc khẩn cấp có thể đứt dây. Những thay đổi này không ồn ào, nên người trong nhà thường không biết.

Danh mục kiểm tra kỹ thuật trong quy trình bảo trì mà Delta tham chiếu có các hạng mục này: độ nhạy của cảm biến cửa, khóa liên động ở cửa tầng, khe hở giữa cửa tầng và cabin theo dung sai, liên lạc hai chiều trong cabin, và ắc quy của cứu hộ tự động. Với thang chở người, quy chuẩn QCVN 02:2019/BLĐTBXH yêu cầu bảo trì tối thiểu 1 tháng một lần.

Với nhà có bé, nên hỏi thẳng đơn vị bảo trì ba điều: các hạng mục trên có nằm trong lịch kiểm tra không, kiểm tra bằng cách đo hay chỉ nhìn bằng mắt, và biên bản có ghi số đo hay không.

Khi thấy cửa mở lại bất thường, cửa không dừng khi có vật cản, hoặc thang dừng lệch tầng, hãy tạm dừng cho bé dùng thang và gọi kỹ thuật viên. Không tự ý tháo, đấu tắt hay chỉnh thiết bị an toàn. Các dấu hiệu cần để ý có trong bài Dấu Hiệu Thang Máy Đang Cảnh Báo Nguy Hiểm. Hotline bảo trì và sửa chữa 24/7: 0868.399.388.

Câu hỏi thường gặp chủ đề: Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ

Thang máy đã được kiểm định thì có cần hỏi thêm gì về an toàn cho trẻ nhỏ không?

  • Có. Kiểm định xác nhận thang đạt yêu cầu chung. Nó không hỏi nhà bạn có bé hay không. Những điều như vị trí cửa thang so với tầm nhìn của người lớn, lan can quanh giếng trời hay việc có dùng khóa trẻ em phải do gia đình và đơn vị thiết kế cùng cân nhắc.

Khoảng hở giữa cửa tầng và cửa cabin bao nhiêu là chấp nhận được?

  • Theo các tài liệu hỏi đáp về EN 81-20, khoảng cách ngang giữa mép cửa cabin và mép cửa tầng không vượt quá 0,12 m, khe hở ngưỡng không vượt quá 35 mm. Tiêu chuẩn Mỹ nêu 4 inch (khoảng 10 cm). Đây là các mốc tham khảo; con số của thang nhà bạn nên được đo lúc nghiệm thu và đối chiếu văn bản gốc.

Cửa tự động hay cửa mở tay an toàn hơn cho trẻ nhỏ?

  • Không có loại nào tốt hơn cho mọi nhà. Cửa tự động có cảm biến chống kẹt nhưng cánh cửa chuyển động. Cửa mở tay không tự đóng sập nhưng cần chú ý khe hở phía bản lề và khả năng bé tự mở cửa vào cabin. Quyết định theo mặt bằng và thói quen của gia đình.

Nhà có bé nên chọn thang máy kính hay thang kín?

  • Cả hai đều dùng được nếu chọn đúng. Với kính, nên hỏi loại kính dán an toàn, khung giữ kính và cách bảo vệ tay trẻ ở cửa kính. Thang kín không có các điểm này nhưng người lớn khó nhìn thấy bên trong.

Giếng thang đã xây xong, còn kịp chỉnh gì cho nhà có bé?

  • Vị trí và kích thước giếng thì không. Nhưng kiểu cửa, phương án bảo vệ cửa kính, vùng cảm biến, liên lạc khẩn cấp, khóa trẻ em và lan can xung quanh vẫn còn dư địa, tùy thiết bị chưa đặt. Nên trao đổi ngay với đơn vị lắp đặt.

Bé bị kẹt tay ở cửa thang máy thì làm gì?

  • Giữ bình tĩnh, bấm nút liên lạc khẩn cấp và gọi người hỗ trợ. Không dùng dụng cụ bẩy cửa, vì có thể làm bé bị thương thêm hoặc làm hỏng cơ cấu cửa. Sau đó đưa bé đi kiểm tra y tế và báo đơn vị bảo trì để kiểm tra cửa, cảm biến.

Kết luận: Thiết kế thang máy an toàn cho nhà có trẻ nhỏ

Một chiếc thang an toàn cho nhà có bé không dựa vào một thiết bị tốt. Nó dựa vào ba lớp: kết cấu được thiết kế đúng, thiết bị được kiểm tra đều, và người lớn nhìn thấy, nghe thấy, hiểu bé. Phần kết cấu là phần khó sửa nhất, nên cần nhiều thời gian nhất ở khâu bản vẽ. Phần còn lại có thể điều chỉnh khi bé lớn lên.

Nếu bạn đang thiết kế hoặc cải tạo nhà có bé, hãy gửi cho Delta bản vẽ hoặc ảnh hiện trạng, số tầng, và độ tuổi các bé trong nhà. Đội ngũ kỹ thuật sẽ khảo sát và cùng bạn đi qua bốn kiểu rủi ro trên trước khi chốt giếng thang. Khi đó, điều bạn nhận được không chỉ là một chiếc thang chạy êm, mà là cảm giác chắc chắn rằng ngôi nhà đã tính đến cả những vị khách nhỏ nhất. Liên hệ hotline tư vấn 0989.68.85.85.

Thanks

CÓ NHIỀU LỰA CHỌN VÀ TƯ VẤN TỐT HƠN

Thang Máy Delta tại Hà Nội 38
Đánh giá:
Thanks