Hố thang khung thép cho nhà cải tạo: cấu tạo, ưu điểm và điểm cần kiểm tra. Hố thang khung thép là bộ khung thép dựng quanh đường chạy của cabin, thay cho tường gạch hoặc bê tông. Với nhà cải tạo, khung nhẹ, gia công sẵn và ít đục phá hơn giếng xây, nên thường được cân nhắc đầu tiên. Nhưng khung chỉ khớp khi số đo đúng. Trước khi cho gia công, cần kiểm tra tám điều: số đo giếng từng tầng, nền đỡ chân khung, dầm sàn hiện có, cách khung nối với nhà, độ thẳng đứng, hố PIT, chiều cao đầu giếng (OH) và vị trí cửa tầng.
Nhiều gia đình nghe rằng hố thang khung thép “nhẹ, nhanh, không phải xây”, rồi đặt gia công khung ngay sau khi đo xong giếng trời ở tầng một. Điều đó chỉ đúng một nửa. Theo Thang Máy Delta, khung thép nhẹ và nhanh ở khâu dựng, nhưng khung được cắt và hàn theo số đo. Thiếu số đo của một tầng thì cả bộ khung có thể phải làm lại.
Bạn thử nghĩ tới tình huống sau. (Đây là tình huống minh họa dựng, không phải công trình thật.) Giếng trời ở tầng một rộng 1,6 m, khung được gia công đúng số đó. Khi thợ dựng lên tầng bốn, một cái dầm nhô ra 12 cm và bức tường lệch về một phía. Khung không còn lọt. Nhà phải cắt chỉnh khung, nhận cabin nhỏ hơn, hoặc đục dầm — việc không nên làm khi chưa có kỹ sư tính. Lỗi trong tình huống này không nằm ở thép. Lỗi nằm ở chỗ chưa đo và chưa kiểm tra đủ trước khi đặt gia công. Bài này đi theo đúng thứ tự đó: khung gồm những phần nào, tám điều phải đo trong ngôi nhà, rồi mới đến chuyện chọn thép, chi phí và các bước làm.

Hố thang khung thép là gì và khác giếng xây ở đâu?
Là bộ khung thép tự chịu lực, dựng quanh đường chạy của cabin, làm việc của giếng thang thay cho tường gạch hoặc bê tông. Giếng thang là khoảng trống thẳng đứng xuyên các tầng để cabin chạy lên xuống. Dù làm bằng gì, giếng thang cũng phải làm đủ ba việc: giữ ray thẳng, chịu sức nặng của thiết bị, và ngăn người ở ngoài chạm vào phần đang chuyển động bên trong. Khung thép làm ba việc đó bằng cột, dầm và giằng được gia công sẵn. Bên ngoài khung là kính, tấm kim loại hoặc vật liệu khác. Hai cách làm khác nhau nhiều nhất ở những điểm sau.
| Tiêu chí | Khung thép | Xây gạch hoặc bê tông cốt thép |
|---|---|---|
| Dựng phần giếng | Gia công sẵn rồi lắp tại nhà. Số ngày các nơi bán nêu từ vài ngày đến vài tuần, vì mỗi nơi tính một phạm vi | Xây và trát; bê tông cần vài ngày mới tháo cốp pha và khoảng 28 ngày để đạt cường độ thiết kế |
| Sức nặng đặt lên nhà | Nhẹ hơn nhiều | Nặng, thường cần móng và dầm chịu riêng |
| Chỉnh sai lệch | Còn căn chỉnh được trong lúc dựng khung | Bê tông đã đổ thì không chỉnh được nữa |
| Bề dày thành (mỗi bên, gồm lớp hoàn thiện) | Khoảng 50 mm | Gạch 110 cộng trát khoảng 130 mm; gạch 220 cộng trát khoảng 235 mm; bê tông 150 cộng trát khoảng 165 mm |
| Lắp kính | Kính bắt thẳng vào khung | Phải khoét ô và làm khung kính riêng |
| Tiếng ồn và rung | Nhẹ và mỏng nên truyền rung nhiều hơn, cần đệm giảm rung | Khối nặng nên hấp thụ rung tốt hơn |
| Chỗ khó về kỹ thuật | Mối nối và độ cứng của khung | Móng, dầm giằng để bắt ray, chống thấm đáy |
Nếu bạn đang phân vân giữa khung thép và bê tông cho cả nhà xây mới, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Khung thép hay bê tông: Nên chọn loại hố thang nào? Bài này đi tiếp một bước: khung thép gồm những phần nào và ngôi nhà cải tạo cần kiểm tra gì.

Hố thang khung thép cho nhà cải tạo: cấu tạo, ưu điểm và điểm cần kiểm tra
- Có sáu phần: cột, dầm cùng giằng, chỗ nối, chỗ bám vào nhà, lớp bao che và chỗ bắt ray. Mỗi phần có một kiểu sai riêng, nên nên xem từng phần một.
Cột thép: các chân đỡ ở góc giếng
- Cột thường đặt ở bốn góc giếng. Cột nhận toàn bộ sức nặng của khung, ray, cửa tầng và vách bao che, rồi truyền xuống nền. Tiết diện cột (kích thước mặt cắt ngang của thanh thép) do kỹ sư tính theo chiều cao giếng và tải trọng thang. Không nên chọn tiết diện theo cảm tính hay theo khung đã làm ở một nhà khác.
- Một số nơi bán công bố thép tấm chấn dày khoảng 4 mm là đủ cho nhà ở thông dụng. Nơi khác nêu 5 đến 10 mm. Hai con số khác nhau cho thấy không có một độ dày dùng chung, vì còn tùy chiều cao, kiểu thép và cách chấn.
Dầm ngang và giằng chéo: giữ cho khung không bị vặn
- Dầm ngang nối các cột lại thành một khung. Giằng chéo là những thanh thép đặt chéo trong ô khung, giữ cho khung không bị vặn hay lắc. Hai bộ phận này còn làm thêm một việc quan trọng: tạo chỗ để bắt ray, cửa tầng và thiết bị. Vì vậy vị trí dầm ngang phải khớp với bản vẽ của thang, không chỉ khớp với cột.
- Có nhà bớt giằng cho đỡ vướng cửa hoặc đỡ tốn thép. Khung nhẹ đi, nhưng cũng mềm đi. Khi thang chạy, khung mềm dễ rung.
Bản mã, bu lông và mối hàn: những chỗ nối
- Bản mã là tấm thép phẳng dùng để nối hai thanh với nhau. Bản mã được bắt bu lông hoặc hàn vào cột và dầm. Khung làm từ thép hình (thanh thép cán sẵn như chữ I, H, U, V) thường nối bằng hàn. Khung làm từ thép tấm chấn (tấm thép uốn thành chữ C hoặc chữ L) thường nối bằng bu lông. Các đơn vị bán thang ghi cả hai kiểu.
- Chỗ nối là nơi lực dồn về, nên cần kiểm tra kỹ nhất. Bạn nên hỏi hai điều: ai hàn, hàn ở xưởng hay tại nhà; và mối nối được kiểm tra bằng cách nào. Sau khi hàn hoặc cắt, lớp sơn ở đó đã cháy, nên phải sơn chống gỉ lại. Nếu bỏ qua bước này, gỉ thường bắt đầu từ chính mối hàn.

Chỗ khung bám vào ngôi nhà: đứng riêng hay nối với nhà?
Có khung đứng riêng, chỉ chạm nền. Có khung được chằng hoặc bắt vào sàn các tầng. Cả hai đều dùng được cho nhà cải tạo, nhưng điểm cần kiểm tra khác nhau.
- Khung đứng riêng: toàn bộ sức nặng dồn xuống bốn chân cột. Cần xem sàn hoặc móng dưới chân cột có chịu được không.
- Khung có nối với nhà: mỗi điểm nối là một chỗ nhà phải chịu lực. Cần xem điểm đó nằm ở dầm, sàn hay tường, và cấu kiện đó có đủ chắc không.
Khi bắt vào bê tông cũ, người ta thường dùng bu lông nở hoặc keo cấy (bu lông cắm vào lỗ khoan và giữ bằng keo chuyên dụng). Loại nào dùng được còn tùy chất lượng bê tông tại điểm đó và vị trí thép bên trong. Đừng tự chọn chỗ khoan khi chưa biết trong cấu kiện có gì. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Cải tạo nhà để lắp thang máy mà hạn chế cắt dầm, phá sàn. Khung thép còn truyền rung nhiều hơn tường dày. Chỗ khung chạm nền hoặc chạm tường nên có đệm giảm rung, nhất là khi giếng thang nằm sát phòng ngủ.
Lớp bao che: kính hay vật liệu kín?
- Bao che là lớp bọc ngoài khung. Có thể là kính, tấm kim loại, tấm xi măng hoặc vật liệu hợp với nội thất. Với kính, quy chuẩn thang máy (TCVN 6396-20:2017, tương đương EN 81-20:2014) đòi hỏi loại kính dán an toàn nhiều lớp. Đó là hai hay nhiều lớp kính dán với nhau bằng phim, để khi vỡ các mảnh vẫn dính lại.
- Các nơi bán thường ghi độ dày kính 10 đến 12 mm. Bạn nên hỏi đúng cấu tạo kính cho công trình của mình, thay vì nhận một con số chung. Lớp bao che cũng nặng thêm cho khung, nên bản tính khung phải tính cả kính.
Chỗ bắt ray: nơi sai số lộ ra
- Ray dẫn hướng là hai thanh thép dựng thẳng đứng, giữ cho cabin chạy đúng đường. Ray được giữ bằng các giá đỡ bắt vào dầm ngang của khung. Ray không chỉ chịu sức nặng. Khi cabin chạy lệch tải, hoặc khi phanh an toàn kẹp vào ray, ray truyền cả lực ngang sang khung. Vì vậy chỗ bắt ray phải đủ cứng và đủ chính xác.
- Chỉ lệch vài milimet ở các giá đỡ cũng có thể làm ray cong hoặc xoắn. Khi đó người trong cabin thấy rung, cửa tầng cọ hoặc kêu. Đây là lý do khung phải làm theo bản vẽ của đúng cấu hình thang, không làm trước rồi tìm thang sau.
Vì sao phải đo và kiểm tra trước khi cho gia công khung?
- Những phần cần kiểm tra: số đo giếng từng tầng, nền đỡ chân khung, dầm sàn hiện có, cách khung nối với nhà, độ thẳng đứng, hố PIT, chiều cao đầu giếng (OH) và vị trí cửa tầng. Theo Thang Máy Delta, làm xong cả tám điều rồi mới đặt gia công, không làm ngược lại.
Số đo giếng ở từng tầng, không chỉ ở tầng một
- Đo rộng và sâu ở ít nhất ba vị trí mỗi tầng: sát sàn, giữa và sát trần. Ghi lại dầm nhô, cột, lan can và ống điện nước đang chiếm chỗ. Cần phân biệt ba loại số đo. Số đo thô là đo đến mép tường. Kích thước thông thủy (còn gọi là lọt lòng) là khoảng trống thật sự dùng được bên trong giếng. Kích thước phủ bì là số đo đến mép ngoài cùng của khung. Nhiều bản vẽ chỉ ghi “kích thước giếng” mà không nói là loại nào.
Nền đặt chân khung
- Bốn chân cột đứng trên đâu: nền đất, sàn tầng trệt, sàn lửng hay móng? Khung nhẹ không có nghĩa là nền bên dưới chịu thêm được bất kỳ tải nào. Nếu chân khung đứng trên sàn của một tầng, nên mời kỹ sư kết cấu xem sàn đó.
Vị trí dầm và sàn hiện có
- Xem dầm nào chạy ngang qua giếng, nhất là ở chỗ cửa tầng. Đừng tự cắt dầm để lấy thêm vài centimet. Dầm là bộ phận chịu lực của nhà và cần kỹ sư tính trước. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Cải tạo nhà để lắp thang máy mà hạn chế cắt dầm, phá sàn
Khung đứng riêng hay nối với nhà
- Điều này cần chốt từ đầu, vì nó quyết định điểm nào của nhà phải chịu lực. Một khung đã làm theo kiểu này thì khó đổi sang kiểu kia.
Độ thẳng đứng của toàn giếng
- Đo bằng dây dọi hoặc máy laser, không đo bằng mắt. Sai lệch ở tầng dưới được mang lên các tầng trên, nên một lệch nhỏ ở tầng một có thể thành lệch lớn ở tầng bốn. Mốc tham khảo chung cho nhà ở là khoảng 20 đến 25 mm trên toàn chiều cao. Đây không phải cam kết của Delta; mỗi cấu hình thang có dung sai riêng trong bản vẽ.
Hố PIT
- PIT là hố âm dưới sàn tầng thấp nhất, nơi đặt bộ giảm chấn. Cần đo chiều sâu thật, xem nền có thấm không và có thể xử lý chống thấm hay không. Nhà cải tạo không đào sâu được vẫn có hướng khác, như chọn thang yêu cầu PIT nông. Hai bài sau giải thích kỹ hơn: Chiều sâu hố PIT thang máy là bao nhiêu? và Không đào được hố PIT có lắp thang máy được không?
Chiều cao đầu giếng (OH)
- OH là phần cao phía trên điểm dừng cuối của cabin. Không đo bằng chiều cao tầng. Hãy đo từ sàn hoàn thiện tại điểm dừng cao nhất đến phần kết cấu phía trên, và ghi riêng những chỗ có dầm hay mái dốc. Đổi sang khung thép không tự tạo thêm chiều cao dưới mái. Cao độ đỉnh khung, chỗ nối và mái hiện có vẫn phải kiểm tra lại.
Vị trí cửa tầng
- Mỗi tầng cần biết cửa mở ra đâu, hành lang trước cửa rộng bao nhiêu, và có dầm chạy ngang trên cửa không. Cũng nên tính tới những lúc thang ngừng chạy, như khi bảo trì hay mất điện. Lúc đó chỉ còn cầu thang bộ để đi, nên từ cửa thang phải bước tới được cầu thang ấy.
- Kết quả của tám việc này nên được ghi vào biên bản khảo sát, tách riêng số thực đo và số dự kiến. Theo quy trình khảo sát của Delta, biên bản có đánh giá từng hạng mục (đạt, đạt có điều kiện, không đạt) và chữ ký hai bên. Nếu từ lúc khảo sát đến lúc thi công cách nhau hơn ba tháng thì cần đo lại. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Quy trình khảo sát thang máy gia đình

Vì sao khung thép hợp với nhà cải tạo và khi nào chưa chắc hợp?
Khung thép hợp vì nhẹ, gia công sẵn và dựng ít đục phá. Nhưng không phải nhà cải tạo nào cũng nhẹ nhõm như vậy. Có năm lý do khiến khung thép được cân nhắc cho nhà đã xây xong.
- Nhẹ hơn khối xây. Nhà bớt phải gia cố thêm cho sàn và móng cũ. Dù vậy, vẫn phải xem sàn hoặc móng dưới chân khung.
- Gia công sẵn. Phần cắt, hàn, sơn làm ở xưởng nên bụi và tiếng ồn tại nhà ít hơn. Nhưng nhà vẫn phải có đường đưa cấu kiện vào. Cửa hẹp hay cầu thang gấp khúc là chuyện cần hỏi từ khảo sát.
- Dùng được chỗ không vuông vắn. Giếng trời méo hay lòng cầu thang không đều đều có thể đo và gia công theo đúng hình đó.
- Dễ lấy sáng. Kính bắt thẳng vào khung, nên thang kính cho các tầng giữa nhiều ánh sáng hơn.
- Thành mỏng. Thành khung mỏng hơn tường xây, nên lòng giếng còn nhiều hơn trên cùng một khoảng trống.
Để thấy lý do cuối cùng bằng số, hãy xem ví dụ sau. (Ví dụ minh họa dựng, không phải công trình thật. Độ dày thành và số giếng theo mặt bằng chung thị trường.) Giả sử khoảng trống đo được là 1.600 × 1.600 mm. Bạn trừ hai lần bề dày thành ở mỗi chiều.
| Kiểu giếng | Thành mỗi bên (gồm hoàn thiện) | Lọt lòng còn lại | Đủ cho thang 250 kg (giếng cần khoảng 1.100 × 1.200) | Đủ cho thang 300–400 kg (giếng cần khoảng 1.200 × 1.300) |
|---|---|---|---|---|
| Khung thép ốp mỏng | khoảng 50 mm | khoảng 1.500 × 1.500 | Đủ | Đủ |
| Gạch 110 cộng trát | khoảng 130 mm | khoảng 1.340 × 1.340 | Đủ | Đủ |
| Bê tông 150 cộng trát | khoảng 165 mm | khoảng 1.270 × 1.270 | Đủ | Thiếu ở chiều sâu |
| Gạch 220 cộng trát | khoảng 235 mm | khoảng 1.130 × 1.130 | Thiếu ở chiều sâu | Thiếu |
Số trên chưa tính dung sai và khoảng dư thi công, nên thực tế còn chặt hơn. Nhưng nó cho thấy cùng một khoảng trống, chọn kiểu giếng khác nhau có thể làm cabin lớn hơn hoặc nhỏ hơn một cấp. Khi nào chưa chắc hợp? Có bảy trường hợp nên khảo sát kỹ rồi mới quyết:
- Nhà cũ xuống cấp hoặc móng yếu.
- Phương án vẫn phải mở ô sàn hoặc cắt nhiều dầm. Khung thép chỉ thay phần dựng giếng, không thay việc nhà phải nhường chỗ cho giếng đi qua các tầng.
- Khoảng trống quá nhỏ. Thành mỏng giúp thêm vài centimet nhưng không làm giếng nhỏ hơn mức tối thiểu của thang.
- OH thấp, như nói ở điều 7.
- PIT bị hạn chế.
- Lắp ngoài trời, nơi thêm gió, mưa, gỉ và chống thấm.
- Đường đưa cấu kiện vào nhà quá hẹp.
Cũng nên nhớ rằng nhanh ở khâu dựng không đồng nghĩa nhanh ở cả tiến độ lắp thang. Khung xong còn phải lắp ray, cửa, thiết bị, chạy thử và kiểm định.

Nên đặt hố thang khung thép ở đâu trong nhà cải tạo?
Bốn chỗ hay gặp là lòng cầu thang bộ, cạnh cầu thang bộ, giếng trời và ngoài nhà. Khoảng thông tầng có sẵn cũng dùng được. Mỗi chỗ có một số đo riêng cần kiểm tra.
- Giữa lòng cầu thang bộ: đo bề ngang lòng cầu thang ở từng tầng. Cầu thang nhà cũ thường không đều. Phải còn đủ chỗ để các vế thang vẫn đi lại được sau khi khung vào.
- Cạnh cầu thang bộ: dễ tổ chức lối đi, nhưng cần xem hành lang còn lại có đủ rộng không.
- Giếng trời: đo kích thước từng tầng, không chỉ một tầng. Giếng trời có thể bị thu hẹp bởi ban công, lan can hay mái che ở một vài tầng. Đặt thang vào giếng trời có thể che bớt ánh sáng và gió của các tầng giữa, nhất là khi dùng vách kín.
- Ngoài nhà: cần thêm chống gỉ, chống thấm chỗ khung chạm tường, thoát nước chân khung, và tính tải gió. Khối khung ngoài nhà còn có thể liên quan khoảng lùi và quy định xây dựng địa phương.
- Khoảng thông tầng có sẵn: cần xác định dầm, sàn và các đường điện nước xung quanh.
Muốn so sánh sâu hơn từng vị trí, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Chọn vị trí đặt thang máy: Trong lòng thang bộ, giếng trời, góc nhà hay ngoài trời?

Nên chọn thép hộp, thép hình hay thép chấn?
Không có loại nào đúng cho mọi nhà. Loại thép và độ dày do bản vẽ tính theo chiều cao khung và tải trọng. Có bốn kiểu thường được nhắc tới:
- Thép hình: thanh thép cán sẵn có mặt cắt chữ I, H, U hoặc V. Thường nối bằng hàn.
- Thép hộp: ống thép vuông hoặc chữ nhật, rỗng ở giữa. Dùng nhiều cho khung nhỏ.
- Thép tấm chấn: tấm thép uốn thành chữ C hoặc chữ L theo kích thước đặt, thường nối bằng bu lông. Dễ làm theo số đo lẻ của nhà cải tạo.
- Thép tổ hợp: ghép nhiều tấm thép hàn lại thành một thanh có tiết diện lớn, khi thanh cán sẵn không đủ khả năng chịu.
Bạn sẽ gặp các tên mác thép như SS400, Q235, CT3. Các tên này thuộc nhóm thép cacbon thông dụng nhưng theo các hệ tiêu chuẩn khác nhau. Điều nên hỏi không phải tên mác, mà là:
- Chứng chỉ xuất xưởng của lô thép (thường gọi là CO/CQ).
- Bản tính tiết diện và độ dày cho đúng chiều cao, tải trọng của công trình mình.
- Độ dày thực khi đo bằng thước kẹp, so với độ dày ghi trong báo giá.
Đừng nhận một con số “4 mm là đủ” rồi so giá giữa các nơi. Cùng độ dày nhưng khác chiều cao, khác kiểu thép, khác số tầng thì không so được. Cũng không có câu “nhà bốn tầng bắt buộc dùng thép X” nếu chưa có bản vẽ. Nếu bạn đang cân nhắc khung nhôm thay cho khung thép, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Thang máy kính khung nhôm hợp kim có tốt hơn khung thép không?

Hố thang khung thép có an toàn không?
Có, khi khung được tính đúng, làm đúng và được kiểm tra trước khi lắp thang. Vật liệu thép không tự quyết định an toàn hay không. An toàn của khung phụ thuộc vào cả chuỗi sau. Nếu một mắt xích yếu thì cả chuỗi yếu theo.
- Bản vẽ và bản tính của khung.
- Chất lượng thép và lớp sơn hoặc mạ chống gỉ.
- Mối hàn và bu lông.
- Chỗ khung nối với nhà và nền dưới chân khung.
- Độ thẳng đứng của khung sau khi dựng.
- Chỗ bắt ray.
- Lớp bao che và kính.
- Việc kiểm tra kích thước trước khi lắp thiết bị.
Có hai yêu cầu cho lớp bao che nên biết. Một là quy chuẩn thang máy yêu cầu vách giếng đủ cứng. Theo bản công khai của TCVN 6396-20:2017, khi dùng lực 1.000 N phân bố đều lên một ô 0,3 × 0,3 m, vách không được biến dạng dư quá 1 mm. Yêu cầu này áp dụng cho cả vách kính và tấm ốp trên khung. Hai là kính phải là kính dán an toàn nhiều lớp.
Khung thép và kính cũng không tự bảo đảm khả năng ngăn cháy. Nếu nhà thuộc diện có yêu cầu phòng cháy riêng cho giếng thang, ví dụ nhà nhiều tầng hoặc nhà kết hợp kinh doanh, hãy hỏi cơ quan phòng cháy chữa cháy địa phương trước khi chốt vật liệu bao che. Sau khi lắp xong, thang chỉ được vận hành chính thức khi kiểm định đạt theo QCVN 02:2019/BLĐTBXH. Nếu về sau thấy khung có tiếng kêu lạ, rung mới xuất hiện hoặc bu lông lỏng, hãy gọi đơn vị bảo trì. Đừng tự siết hay chỉnh.

Làm hố thang khung thép hết bao nhiêu tiền?
Không có một giá chung. Giá đổi theo số tầng, chiều cao, thép, vật liệu bao che, vị trí và mức độ phải xử lý nhà. Delta chưa có bảng giá riêng cho hạng mục này, nên các số dưới đây chỉ để ước lượng. Chín yếu tố làm giá khác nhau:
- Số tầng và chiều cao giếng.
- Kích thước giếng.
- Loại thép và độ dày.
- Cách xử lý bề mặt: sơn tĩnh điện, sơn thường hay mạ kẽm.
- Kính hay vật liệu bao che khác, và diện tích bao che.
- Lắp trong nhà hay ngoài trời.
- Đường vận chuyển và việc phải dùng thiết bị nâng hạ.
- Mức độ phải xử lý kết cấu nhà.
- Hố PIT và chống thấm, nếu cần làm riêng.
Số tham khảo công khai. Đây là số do các đơn vị bán công bố, chưa kiểm chứng độc lập, và không phải giá của Delta. Mỗi nơi tính một phạm vi nên cần đọc cả điều kiện đi kèm.
- Khung thép tiêu chuẩn, thép dày khoảng 4 mm, tính theo tầng, chưa gồm kính: khoảng 13 đến 15 triệu đồng mỗi tầng (mốc tháng 9/2025) và 15 đến 17 triệu đồng mỗi tầng (mốc tháng 4/2026). Một nguồn khác ghi khoảng 10 đến 16 triệu đồng mỗi tầng.
- Kính hoàn thiện: khoảng 800.000 đồng mỗi mét vuông (hai nguồn trùng nhau). Một nguồn ước nhà năm tầng cần khoảng 65 đến 80 m² kính, tùy chiều cao và kích thước ô chờ.
- So với xây gạch hoặc bê tông: các nguồn nói khung thép cao hơn từ vài triệu đồng mỗi tầng đến 15–30%, và không thống nhất. Nên đọc là “không mặc định rẻ hơn”, không phải một con số chắc.
Phép tính minh họa (ví dụ dựng từ các số công bố ở trên, không phải báo giá). Với nhà năm tầng, phần khung khoảng 5 × 13 đến 17 triệu, tức 65 đến 85 triệu đồng. Phần kính 65 đến 80 m² × 0,8 triệu, tức 52 đến 64 triệu đồng. Cộng lại, riêng phần giếng khoảng 117 đến 149 triệu đồng. Con số này gần với mức 100 đến 150 triệu đồng mà một nơi bán công bố cho nhà 5 đến 7 tầng. Nó chưa gồm thang máy, PIT và chống thấm, xử lý kết cấu nhà, vận chuyển. Không rõ các nguồn đã gồm thuế giá trị gia tăng hay chưa. Vì vậy, khi nhận báo giá, hãy hỏi rõ năm điều:
- Giá đã gồm kính chưa, kính loại nào, bao nhiêu mét vuông?
- Giá đã gồm sơn hay mạ chưa, và loại nào?
- Giá có gồm bản vẽ, vận chuyển, nhân công lắp dựng không?
- Các hạng mục xử lý kết cấu nhà và PIT nằm trong hay ngoài báo giá?
- Giá đã gồm thuế chưa?
Theo Thang Máy Delta, hai báo giá chỉ so được khi cùng phạm vi. Để biết giá cho nhà của bạn, cần khảo sát trước. Bạn có thể liên hệ hotline tư vấn 0989.68.85.85 để đặt lịch khảo sát.

Những sai lầm hay gặp khi làm khung thép thang máy
- Đặt gia công khung khi chưa chốt thang. Kích thước khung phải lấy từ cấu hình thang, không làm ngược lại.
- Chỉ đo giếng ở tầng một. Nhà cũ hiếm khi thẳng đều qua các tầng.
- Giảm thép hoặc bớt giằng để tiết kiệm. Khung rẻ đi nhưng mềm đi, và khung mềm thì thang rung.
- Khoan neo vào nhà trước khi biết bên trong cấu kiện có gì. Khoan trúng thép hay vào chỗ bê tông yếu đều làm hỏng điểm neo.
- Quên vẽ chỗ bắt ray và cửa tầng vào bản vẽ khung. Khung đẹp nhưng không có chỗ bắt ray thì phải cắt thêm, hàn thêm.
- Bỏ qua sơn và thoát nước cho khung ngoài trời hoặc khung chạm tường. Gỉ và thấm thường bắt đầu ở những chỗ đó.
Nếu khung đã dựng mà sai số đo, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Sai kích thước hố thang có khắc phục được không?
Làm hố thang khung thép gồm những bước nào?
Gồm chín bước. Khảo sát và bản vẽ phải xong trước khi xưởng cắt thép.
- Khảo sát thực tế: xem nhà, vị trí dự kiến, số tầng, ai sẽ dùng thang.
- Đo giếng, PIT và OH: làm đúng theo như mục – ( Vì sao phải đo và kiểm tra trước khi cho gia công khung? )
- Kiểm tra kết cấu hiện có: nền, dầm, sàn, chỗ có thể neo.
- Chọn sơ bộ cấu hình thang: tải trọng, kiểu truyền động, kích thước cabin và cửa.
- Thiết kế bản vẽ khung: có vị trí ray, cửa tầng, chỗ nối, chỗ đệm, bản tính.
- Gia công cấu kiện: cắt, chấn hoặc hàn, sơn.
- Lắp dựng và căn chỉnh: đo độ thẳng đứng khi dựng, không để đến lúc lắp ray mới đo.
- Kiểm tra kích thước trước khi lắp thiết bị: đối chiếu số đo thực của khung với bản vẽ.
- Hoàn thiện bao che: kính hoặc tấm ốp.
Theo quy trình nội bộ của Delta, trước khi thi công, đơn vị lắp phải có biên bản khảo sát đã ký, bản vẽ thi công đã duyệt và nghiệm thu lại giếng, PIT, OH thực tế. Sau khi lắp, thang được chạy thử khoảng 10 ngày trước bàn giao rồi mới kiểm định. Thứ tự này giúp phát hiện sai lệch lúc còn sửa được trên bản vẽ, thay vì khi khung đã dựng.
Checklist trước khi chốt khung thép thang máy
Bạn có thể in trang này và đánh dấu từng mục trước khi trao đổi với đơn vị khảo sát.
- Đã đo rộng × sâu ở từng tầng, ít nhất ba vị trí mỗi tầng.
- Đã đo chiều sâu hố PIT thực tế và xem nền có thấm không.
- Đã đo chiều cao đầu giếng (OH) từ sàn hoàn thiện tầng cuối đến kết cấu phía trên.
- Đã ghi vị trí dầm đi qua giếng. ☐ Đã ghi vị trí cột và lan can nhô vào giếng.
- Đã biết nền đỡ chân khung là gì và ai kiểm tra nền đó.
- Đã chốt khung đứng riêng hay nối với nhà.
- Đã biết hướng mở và vị trí cửa tầng ở từng tầng.
- Đã xác định vị trí cầu thang bộ và đường từ cửa thang tới cầu thang.
- Đã ghi vị trí đường điện, đường nước đi qua hoặc sát giếng.
- Đã có bản vẽ ghi rõ chỗ bắt ray.
- Đã hỏi về chống thấm và chống gỉ cho chỗ ướt hoặc ngoài trời.
- Đã kiểm tra đường đưa cấu kiện vào nhà (cửa, hành lang, cầu thang).
- Bản vẽ khung đã được thống nhất với cấu hình thang bằng văn bản.
Câu hỏi thường gặp chủ đề: Hố thang khung thép cho nhà cải tạo
Hố thang khung thép có chiếm ít diện tích hơn xây gạch không?
- Thường là có, vì thành khung mỏng hơn. Mỗi bên có thể mỏng hơn vài centimet đến hơn một decimet so với tường gạch. Nhưng chỗ tiết kiệm này không tự làm cabin to ra. Bạn cần đo lọt lòng thực tế của khung đã chọn.
Nhà đang ở có làm được khung thép không?
- Làm được ở nhiều nhà, nhưng không phải nhà nào cũng giống nhau. Phần cắt và hàn làm ở xưởng nên bụi và ồn tại nhà ít hơn. Phần dựng, khoan neo và lắp kính vẫn làm tại nhà. Hãy hỏi lịch thi công theo từng tầng và cách rào chắn. Chỗ giếng thang hay hố PIT đang làm dở cần được che chắn, có biển báo, và người không có việc không được vào.
Có làm khung thép giữa cầu thang bộ được không?
- Được, nếu lòng cầu thang đủ rộng và các vế thang còn lại vẫn đi lại và thoát nạn được. Cần đo ở từng tầng vì lòng cầu thang nhà cũ thường không đều. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Lắp thang máy ở giữa cầu thang bộ và 3+ điều cần biết
Hố thang khung thép có làm ngoài trời được không?
- Làm được nhưng thêm việc: chống gỉ nhiều lớp hoặc mạ, thoát nước chân khung, chống thấm chỗ khung chạm tường hoặc mái, và tính tải gió. Hãy hỏi cơ quan quản lý xây dựng địa phương về quy định, vì khối giếng ngoài nhà có thể ảnh hưởng khoảng lùi và mặt tiền.
Khung thép có bị rung khi thang chạy không?
- Khung được tính và dựng đúng thì thang chạy êm. Rung thường đến từ khung thiếu giằng, mối nối lỏng, ray bắt lệch, hoặc chân khung không có đệm. Hãy hỏi bản vẽ có thể hiện giằng và chỗ đệm chưa. Nếu thang đã chạy mà mới xuất hiện rung, hãy gọi hotline bảo trì 0868.399.388 thay vì tự xử lý.
Nhà 3–5 tầng nên dùng thép hộp hay thép hình?
- Chỉ số tầng thì chưa đủ để chọn. Cả hai đều dùng được cho nhà ở. Loại nào hợp phụ thuộc chiều cao, tải trọng, cách nối và nền dưới chân khung. Hãy chờ bản vẽ và bản tính của công trình rồi mới chọn.
Làm khung thép trước rồi mua thang sau có được không?
- Không nên. Khung phải khớp với cabin, ray, cửa và OH, PIT của đúng cấu hình thang. Nếu buộc phải làm khung sớm, ít nhất hãy chốt trước tải trọng, kiểu truyền động, kích thước cabin và cửa, và nhờ đơn vị thang xác nhận số đo bằng văn bản.
Hố thang nhỏ có nên dùng khung thép để tiết kiệm diện tích không?
- Có thể, nhưng chỉ khi cabin vẫn đủ dùng. Khung mỏng không làm giếng nhỏ hơn mức tối thiểu của thang. Nếu lọt lòng vẫn thiếu, hướng khác là chọn cabin nhỏ hơn hoặc đổi vị trí. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Nhà ống 3m có lắp được thang máy không?
Kết luận chủ đề: Hố thang khung thép cho nhà cải tạo
Với nhà cải tạo, hố thang khung thép là cách làm linh hoạt: nhẹ, gia công sẵn và ít đục phá. Nhưng khung chỉ đúng khi số đo đúng. Điều làm khung thành công không phải là tên loại thép, mà là thứ tự làm. Đo từng tầng, kiểm tra nền, dầm, chỗ nối, PIT, OH và cửa tầng. Chốt cấu hình thang. Rồi mới đặt gia công. Khi đo đủ trước, khung thường vừa với nhà ngay lần dựng đầu. Nhà ít phải cắt chỉnh hơn dự tính, và bạn biết mình đang trả tiền cho khoản nào. Đó là lợi ích thật của việc đi chậm một bước ở phần đo.
Muốn biết nhà mình có dựng được hố thang khung thép không, bạn có thể nhờ Thang Máy Delta khảo sát tại nhà rồi mới bàn phương án. Trước buổi khảo sát, hãy gom sẵn mấy thứ sau: ảnh hoặc bản vẽ từng tầng nếu còn, số tầng muốn đi, chỗ dự định đặt thang, và ảnh những chỗ dầm nhô hay giếng trời hẹp. Hotline tư vấn của Delta là 0989.68.85.85.
Bài viết liên quan:
Tại sao chọn thang máy gia đìn...
Quy trình khảo sát thang máy g...
Top 06 mẫu thang máy gia đình ...
Thời gian đặt hàng thang máy g...
Thời gian thi công và lắp đặt ...
Photocell Thang Máy Hoạt Động ...
SẢN PHẨM NỔI BẬT:

